Nhiều “lấn cấn” với hàng bình ổn

Ngoài ra, khi PV đưa ra ví dụ một siêu thị không tham gia chương trình bình ổn giá nhưng giá lại cạnh tranh được với các siêu thị tham gia bình ổn, thậm chí thấp hơn, ông Đồng cũng thừa nhận và cho rằng: “Do siêu thị này có kinh nghiệm, bề dày trong kinh doanh, tiềm lực kinh tế mạnh”(?!). Dù giải thích thế nào chăng nữa thì cũng là chai dầu ăn, loại gạo, loại đường đó nhưng bán ở địa điểm bình ổn giá lại cao hơn giá trên thị trường là bất hợp lý.

nhieu-lan-can-voi-hang-binh

Ông Vũ Vinh Phú, Chủ tịch Hội siêu thị Hà Nội thừa nhận có chuyện giá hàng bình ổn cao hơn thị trường. Tuy nhiên, ngoài việc đồng cảm với những khó khăn mà doanh nghiệp bình ổn giá gặp phải như việc mua tận gốc, bán tận ngọn, việc đánh thuế với hàng trong các siêu thị…

Ông Vũ Vinh Phú cũng thẳng thắn trước những khiếm khuyết mà cơ chế hàng bình ổn đang tạo ra: “Ỷ tưởng bình ổn giá là rất tốt nhưng khâu thực hiện không mang lại hiệu quả cao. Không có tác dụng dẫn dắt thị trường nhiều vì nếu là rau xanh, giá cao người dân trồng nhiều giá sẽ giảm. Các loại thực phẩm tươi sống khác cũng vậy. Hàng bình ổn chỉ đáp ứng được 20% thị trường, 80% còn lại là do các chợ truyền thống đảm nhiệm. Hơn nữa trong số 20% thị phần của hàng bình ổn cũng chủ yếu phục vụ khu vực nội đô với đối tượng chủ yếu là không nghèo. Chưa kể bình ổn giá tạo nên chính sách hai giá là phi thị trường. Quản lý nội bộ không cẩn thận còn dẫn đến tiêu cực, người trong siêu thị bình ổn tuồn hàng ra ngoài thu lợi bất chính. Do đó, không nên thực hiện bình ổn cho thương mại vì đó là phần ngọn mà nên bình ổn cho sản xuất và ưu đãi cho người nghèo”.

Cùng quan điểm với ông Vũ Vinh Phú, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cũng cho rằng: “Hàng bình ổn giá vẫn chưa thực sự đến được với người nghèo. Tiền cho chương trình được lấy từ thuế của các thành phố, của toàn dân nhưng phần lớn lại tập trung ở các siêu thị, nơi mà đối tượng phục vụ chủ yếu là người có thu nhập khá, chí ít cũng không nghèo. Thế thì các mặt hàng bình ổn giá này chủ yếu đang hướng về người giàu. Làm thế chẳng khác nào chúng ta đang lấy của người nghèo chia cho người giàu”.

Giá cao hơn vì cơ chế và kinh nghiệm… yếu?!

Hoàn toàn khác với quan điểm của ông Vũ Vinh Phú và bà Phạm Chi Lan, ông Nguyễn Văn Đồng, Phó Giám đốc Sở Công Thương Hà Nội lại cho rằng: “Hàng bình ổn không hoàn toàn là phục vụ cho người nghèo mà nhằm mục đích an sinh xã hội. Phục vụ cho toàn xã hội chứ không riêng người nghèo. Mục tiêu của hàng bình ổn giá là giảm sốt giá trên thị trường, tránh khan hàng tăng giá, tránh lạm phát và phát triển kinh tế xã hội. Cân đối được cung cầu cho xã hội, nhất là các mặt hàng thiết yếu. Dù là nghèo hay giàu cũng đều phải sử dụng vì chủ yếu nó phục vụ cho bữa cơm hằng ngày”.

Khi PV phản ánh rằng việc chênh giá không chỉ dừng lại ở mặt hàng thực phẩm tươi sống mà cả gạo và các loại thực phẩm chế biến sẵn như dầu ăn, đường… thì ông Đồng lại giải thích rằng: “Trước đây giá trong hàng bình ổn là do doanh nghiệp đăng ký giá bán với Sở Tài chính. Đăng ký giá bao nhiêu thì bán bấy nhiêu. Nhưng từ năm 2011 các doanh nghiệp tham gia bình ổn phải đăng ký giá, sau khi liên Sở Tài chính – Công Thương kiểm tra chấp nhận, giá bán đó mới được thực  hiện. Khi thị trường có sự biến động, các doanh nghiệp này cũng phải  trình phương án giá bán mới lên liên Sở để duyệt.

Trong 5 ngày làm việc Sở Tài chính sẽ có trách nhiệm thẩm định và duyệt giá cho doanh nghiệp. Khi thị trường xuống, các doanh nghiệp phải giảm giá bán để cạnh tranh. Do đó, giá bình ổn không linh hoạt bằng giá ngoài thị trường, do đó thời điểm hàng bình ổn cao hơn thị trường có thể rơi vào lúc giá ngoài thị trường tự do xuống mà giá trong hệ thống chưa điều chỉnh kịp”. Rõ ràng đây là sự bất cập quá rõ của cơ chế mà các nhà quản lý dù nhận thấy nhưng lại không sớm khắc phục.

Ngoài ra, khi PV đưa ra ví dụ một siêu thị không tham gia chương trình bình ổn giá nhưng giá lại cạnh tranh được với các siêu thị tham gia bình ổn, thậm chí thấp hơn, ông Đồng cũng thừa nhận và cho rằng: “Do siêu thị này có kinh nghiệm, bề dày trong kinh doanh, tiềm lực kinh tế mạnh”(?!). Dù giải thích thế nào chăng nữa thì cũng là chai dầu ăn, loại gạo, loại đường đó nhưng bán ở địa điểm bình ổn giá lại cao hơn giá trên thị trường là bất hợp lý.

Doanh nghiệp bình ổn đã được vay vốn với mức lãi suất 0% trong thời điểm lãi suất cho vay kinh doanh khá cao (15 – 18%/năm). Các doanh nghiệp kinh doanh trên thị trường tự do đang phải chịu áp lực lớn từ mức lãi suất này. Thực tế không đơn giản như lời giải thích của ông Nguyễn Văn Đồng, vì tình hình giá hàng bình ổn cao hơn thị trường phải chăng khâu kiểm soát vốn và sử dụng vốn của những doanh nghiệp được vay vốn không đáp ứng được yêu cầu của chương trình bình ổn? Thiết nghĩ các cơ quan chức năng cần thanh tra, kiểm tra việc sử dụng vốn và bán hàng bình ổn để người tiêu dùng thật sự được hưởng lợi từ chương trình mang tính nhân bản này.